Lạc mất linh hồn

Lạc mất linh hồn

Nó không biết những ai đã nuôi nó. Năm 3 tuổi nó được gửi đến cô nhi viện. Nó trốn những giờ cầu kinh và đi thơ thẩn bắt những con dế trũi trong vườn cỏ cho vào lọ rồi đem chôn.

Mưa vừa tạnh. Bầu trời còn giữ màu xám ngoét như nuối tiếc cơn mưa chưa đủ lớn. một tia nắng bức bối lách qua đám mây đen làm cuộc dạo chơi với những vũng nước đọng đùa giỡn với những hạt mưa còn sót lại trên vòm lá. Chẳng mấy chốc, nắng ngập tràn khắp nơi, không khí toát lên một thứ mùi kì lạ. Cái thứ mùi của nắng và mưa hòa quyện tuyệt vời giống như một món ăn chay của những người giàu có sau khi đã chán ngán sơn hào hải vị. Một con chim non cất lên tiếng hót trong trẻo đánh động tất cả mọi thứ. Nó choàng tỉnh dậy, đưa tay che đôi mắt đang nheo lại vì nắng. Bên gian hàng quần áo bên cạnh có tiếng quát:

- Mau bày quần áo ra đi chứ con “hủi” này! Giờ còn nằm đó mà ngáy à?

- Thì mẹ cứ từ từ nào… vừa mưa xong đã có ma nào đến rước hàng cho mẹ chứ.

Con “hủi”ngoạc mồm nói trong tiếng ngáp dài. Chưa kịp có thời gian vươn vai, nó đã được ăn nguyên đôi tông của mẹ phết vào mông. Chả biết mẹ nó có đánh mạnh không nhưng nguyên tiếng hú hét như còi tàu của nó chứng tỏ nó đang phóng đại sự đau đớn của mình. Rồi mỗi ngày như mọi ngày, cái màn chí chóe của mẹ con con “hủi” lại tái diễn. mẹ nó thì không ngớt mắng sa sả rồi lôi một loạt gương các “anh hùng lao động” trong xóm chợ nhồi vào cái mặt câng câng của nó. Con hủi cũng không chịu kém mẹ một tiếng nào, nó gân cổ điểm danh những bà mẹ chiều con mà nó từng nghe tụi con Na con Mít kể. Cứ thế có lẽ màn đấu khẩu của mẹ con nhà này sẽ kéo dài đến tơi nếu mẹ con hủi không buông ra một câu không biết là đùa hay thật:

- Mày mà còn bướng tao đem bán sang Trung Quốc! Sang bên đó mà cãi nó có cho mày ăn cơm không?

Con hủi đang mồm mép tép nhảy bỗng im bặt không nói một câu. Dường như lời dọa của mẹ đã có tác dụng làm khuôn mặt nó giãn ra không còn cái vẻ vênh vênh thách thức như vừa nãy nữa. nó sợ mẹ nó bán đi Trung Quốc thật vì nó từng nghe mọi người trong xóm chợ truyền tai nhau về chuyện đứa em song sinh của nó bị mẹ nó bán cho nhà giàu khi mới 3 tháng tuổi rồi biệt tăm, biệt tích đến bây giờ. Nó chưa bao giờ dám hé mồm hỏi mẹ nó về chuyện này vì sợ đến lúc nổi nóng mẹ nó bán nó đi thật. Bây giờ thì nó ngoan như con cún con cùng mẹ dọn hàng.

Nằm ở gian hàng bên cạnh, câu chuyện của mẹ con nhà con “hủi” khiến nó buông một tiếng thở dài. Tiếng thở dài của sự bất lực. nó thương con “hủi” như em gái nhưng cũng chỉ biết buông những lời an ủi đại loại như: “mẹ mày không bán mày đâu! Bán mày thì lấy ai dọn hàng cho bà ấy”. Nó nói như thế nhưng nó cũng chẳng dám đảm bảo là nó có nói thật không. Nhưng mà có sao, chả phải nếu nói dối mà không ảnh hưởng xấu đến người khác trái lại đem đến cho con “hủi” sự an tâm thì nó vẫn sãng sàng nói dối thậm chí còn nói dối cả những điều mà đến khi nghĩ lại nó còn không tin mình đã dám nói dối:

- Mày yên tâm đi! Tao sẽ làm thật nhiều tiền để phòng khi mẹ mày có định bán mày thì tao sẽ nhận cưới mày và nuôi mày.

Khuôn mặt trịnh thượng như đọc diễn văn quốc tế thiếu nhi của nó khiến con “hủi” tin như bài kinh Tin Kính mà bọn nó vẫn đọc làu làu như ngô rang mỗi buổi đi nhà thờ. Con hủi nhe răng khoe hàm răng nham nhở lắc tay nó như sợ nó bị mê sảng.

- Anh Nam hứa nha! Hứa là làm thật nhiều tiền để cưới em về nha!

Nhìn khuôn mặt tha thiết của con hủi nó không kịp suy nghĩ gật đầu cái rụp tán thành. Thế là từ đó nó trở thành chồng tương lai của con bé. Từ hồi làm vợ tương lai của nó con “hủi” trở nên ngoan ngoãn hơn trước, ai gọi cũng dạ, ai bảo cũng vâng nhưng có một chuyện làm nó không thể chịu được và thấy cần phải ăn năn sám hối nhiều lắm vì trót nói dối đó là vì con hủi đã được làm vợ tương lai nó nhưng vẫn chưa an phận. Mà sự đời “có voi thì đòi tiên” con hủi cứ làm như là vợ nó thật sự, quản thúc giờ giấc của nó nghiêm lắm, quản cả bạn bè của nó nữa làm nó bực lắm. Nó phải kìm long lắm mới không nói toạc móng heo cái sự nó đã nói dối con bé.

Tạm gác cái câu chuyện của nó với con hủi lại, bây giờ chỉ nói về riêng nó. Thực ra, hoàn cảnh của nó còn đáng thương hơn con hủi nhiều. nó không có mẹ, cha thì càng không vì mẹ nó mất sau khi sinh nó còn cha nó thì chẳng biết là ai. Nó bơ vơ từ khi lọt lòng. Nó không biết những ai đã nuôi nó. Năm 3 tuổi nó được gửi đến cô nhi viện. Nó trốn những giờ cầu kinh và đi thơ thẩn bắt những con dế trũi trong vườn cỏ cho vào lọ rồi đem chôn.

Năm 6 tuổi, đời nó bước sang một trang mới không biết là may hay rủi. Một buổi sáng nó được một gia đình không con đến cô nhi viện nhận nuôi. Sau này lớn lên nó mới biết, tại sao trong mấy chục đứa bé người ta lại chọn nó. Không phải vì nó kháu khỉnh cũng chẳng phài vì người ta có thiện cảm với nó mà vì nó lì lợm nhất. Tuy nhỏ người nhưng lại là đứa khỏe mạnh nhất. người ta nhận nó làm con ở nhưng với danh nghĩa là con nuôi. Sau một hồi hứa hẹn với các sơ dòng rằng sẽ nuôi nấng nó lên người tử tế, nên người, họ chở nó đi trên chiếc samson đỏ lòe loẹt. Lần đầu tiên nó được đi xe gắn máy. Ngồi trong cái sọt phía sau xe, nó mở to cặp mắt thao láo nhìn đời, nhìn cả người đời nữa. Chính lúc đó nó bắt đầu học được những cái mà sự đời lẽ ra không nên lọt vào tai, vào mắt nó. Rồi từ những điều mắt thấy, tai nghe, nó bắt đầu thực hiện luôn ở miệng. Nó bắt đầu lẩm bẩm trong miệng những câu chửi thề của người dân xóm chợ…

Nó không nhớ rõ từng chi tiết, bố mẹ nuôi của nó đã nuôi dậy như thế nào, và cũng không hiểu cách giáo dục của họ đã tạo ra sản phẩm có giống như những lời hứa hẹn và mong ước khi xưa của họ hay không, chỉ biết rằng sau mỗi trận đòn, nó được nghe bố mẹ nuôi làu bàu không ngớt về cái sự tích làm “người” của nó. Mắng chán, chửi chán, họ chốt lại một câu dửng dưng phủ nhận tất cả những gì mà họ đã hứa hẹn trong quá khứ trước mặt Chúa và Đức mẹ để mua được nụ cười và sự đồng ý của sơ cả.

- Tao không hiểu cái thứ như mày là cái giống người hay ngợm nữa.

Nó không khóc cũng chả buồn và nó cũng không thèm để ý nó là người hay ngợm nữa. Nó chai sạn với mắng chửi, gan lì với đòn roi. Đôi khi nó bâng khuâng nghĩ có lẽ khi ở cô nhi viện thì nó là người còn ở cái xóm chợ này thì nó là ngợm, có lẽ đối với con Na, con Mít thì nó là người còn với người lớn thì nó là ngợm. Nó thấy nó được tôn sùng như mọi người sùng các ông thánh, bà thánh khi nghĩ tới con “hủi”. Nhưng sự thực thì nó chưa bao giờ muốn đời nó gắn với đời con “hủi” cả.

Thi thoảng nó trốn nhà về tu viện ngồi núp dưới hàng hoa giấy trước cổng. Mắt nó cay cay khi thoáng thấy tà áo của các sơ dòng. Nó lẩm bẩm đọc theo lời kinh cầu nguyện trước bữa ăn của bọn trẻ. Có lẽ nó đã từng ao ước được mang những “cỗ quan tài” của bọn dế đi khỏi vườn cỏ cô nhi viện lúc nó 6 tuổi nhưng bây giờ khi nó 16 tuổi thì nó chỉ ao ước một lần được tha mạng sống cho bọn dế đáng thương như Thiên Chúa đã bao lần tha tội cho nó vậy. có thể nói một đứa bé thơ chưa chắc đã hoàn toàn lương thiện hay một thằng nhóc côn đồ như nó chưa chắc đã hoàn toàn xấu xa. Nhưng dù ở thời điểm nào thì Chúa nhân từ cũng có thể tìm ra lời giải tội và biện minh cho những hành động của nó. Thế nên, Chúa là người duy nhất mà nó tin tưởng và kính yêu thực sự. Nhưng Chúa đâu phải là con người hiện hữu bằng hình ảnh thật nên đôi khi nó cũng hoang mang lắm. có đêm nó nằm mơ Chúa là bố nuôi nó mà tỉnh dậy nó sợ mướt mồ hôi. Khi nó định thần chỉ là một giấc mơ thì một ý nghĩ chợt vụt qua trong đầu nó: Nếu bố nó là Chúa thật thì chắc người đang thử thách 8 mối phúc thật nơi nó. Thế là mất hẳn một tuần nó là đứa con ngoan trong sự kinh ngạc của ba mẹ nuôi nó. Nhưng cũng như quy luật đói là phải ăn, ghét cái gì từ tấm bé thì không thể quý được, sau đúng 7 ngày nhẫn nhịn nó lại trở về với cái mặt lầm lì. Nó như thế lại đem lại sự thoải mái cho bố mẹ nuôi nó và cả chính nó. Từ đó nó nghiệm ra Kinh thánh thì không bao giờ sai và Chúa thì ở khắp mọi nơi nhưng ta không thấy và nếu thấy Chúa thì nó sẽ gặp người nơi thiên đường. Thế nên nó trông chờ cuộc sống ở bên kia thế giới hơn.

Mỗi lần các sơ dòng phát hiện ra nó, nó lại vụt chạy. Mọi người không hiểu vì sao nó chạy. Có lẽ nó không muốn ai phát hiện ra nó từng ở cô nhi viện. Nó sợ nó làm vấy bẩn chốn linh thiêng đó.

Có lẽ việc làm duy nhất khiến bố mẹ nuôi nó có thể cứu vớt được linh hồn của họ không sa xuống hỏa ngục đó là việc cho nó đi học. Nó học không dốt, không giỏi nhưng nó thích tới trường. Tới trường không phải vì nó sợ nghe bố mẹ mắng chửi mà vì đến đó nó được nghe giọng cô giáo êm mượt như ru. Giọng cô giáo hay như bản thánh ca trong nhà thờ vậy. nhưng nó thề nó chưa bao giờ yêu một bài thơ nào cô giáo đọc. Bằng chứng là cho tới bây giờ nó chưa bao giờ nhớ được một bài thơ từ đầu đến cuối cho tử tế. Thời giân nó có mặt tại lớp học chủ yếu là để ngủ. Càng thầy cô giáo nào mà tụi bạn cùng lớp cho rằng dạy hay thì giờ của thầy cô giáo đó nó càng hăng say ngủ.

Nó không có bạn. bạn thân của nó thì càng không. Hai nhân vật trong lớp mà nó thường xuyên giao lưu và gặp gỡ thì một là lớp trưởng, hai là thằng Bình Sứt. nó hay qua lại với lớp trưởng chẳng phải vì thành tích học tập cũng chẳng phải vì nhận cách có thể sánh tầm lãnh đạo. đơn giản vì lớp trưởng cần một tấm gương về thành tích phạm luật: không sơ vin, không đi dép quai hậu, ngủ gật… vân vân và vân vân. Và trong lớp ngoại trừ nó ra thì không ai có thể vươn tới tầm của một con người chỗ nào xấu, việc gì không tốt cũng có sự gớp mặt tích cực. Nhưng gần đây có một nhân vật muốn soán ngôi đệ nhất của nó. Đó chính là thằng Bình Sứt dưới xóm Hạ. Như để chứng minh là mình vượt trội hơn hẳn về phong độ phạm lỗi, thằng Sứt sẵn sàng giả vờ ngủ bất cứ lúc nào, không những thế để gây sự chú ý nó còn cố tính ngáy khò khò tự nhiên kéo hết bè gỗ này đến bè gỗ lớn hơn trong lớp học. nó có dép quai hậu nhưng lại luôn mang trong cặp một đôi dép lê để sẵn sàng phạm tội bất cứ khi nào. Và còn nhiều thứ quái gở khác như đang làm bài thì cười hố lên một cách vô duyên để được thầy giáo mời vô góc lớp đếm kiến bò. Những việc làm của cu Sứt chỉ là hành động múa rìu qua mắt thợ. Nó luôn nhìn thằng Sứt bằng nửa con mắt ngạo mạn. đơn giản vì thằng Sứt còn biết sợ. sau vài lần ăn bạt tai của thầy giám hộ và ăn cháo lươn liên tục của bố mẹ, thành tích phạm tội của ku Sứt sa sút nghiêm trọng. nó thì khác. Nó không sợ thầy giám hộ, không sợ bố mẹ nuôi. Nó có thể làm gì tùy nó thích. Nhưng nó cũng biết sợ. Một nỗi sợ giống với muôn đứa học sinh bình thường khác đó là bị đuổi học. thế là nó nảy ra một ý định, chia sẻ thành tích phạm tội với thằng Sứt. Ý tưởng này được thằng Sứt nhiệt liệt ủng hộ. Sau lần đó với ánh mắt hàm ơn lúc nào cũng chớp chớp tỏ sự ngưỡng mộ của thằng Sứt nó trở thành đại ca của “hội những người chuyên phạm luật” – cái tên mà thầy giám hộ âu yếm đặt cho các con giời phá phách trong trường.

Nó vui, thằng Sứt vui, lớp trưởng vui, thầy cô giáo chép miệng khi đọc lỗi của học sinh nhưng giãn ra khi thấy lỗi nó đã vơi đi một nửa nên nó nghĩ thầy cô cũng vui. Thế là nó đã mang lại niềm vui cho nhiều người lắm lắm. cứ nghĩ đến đó mà nó thấy tự hào về bản thân mình.

Cái chuyện ngày xửa đó có lẽ là một trong số ít niềm vui mà nó nhận được trong cuộc đời. tuổi thơ nó gắn liền với cái mùi nồng nồng của đủ các loại giả da, thật da toát ra từ đống hàng giầy dép của ba mẹ nuôi nó. Đêm nó nằm hít hít cái mùi đó vào mũi, vào mồm như thể người ta hít hoa vậy. Mỗi sáng tỉnh dậy, cái bụng còn kẹp lép nó đã chạy khắp các ngõ ngách kiếm những thứ rác rưởi còn sót sau buổi chiều tàn ngày hôm trước. Nó lọ mọ khiêng cái bao tải to đầy những vỏ, những túi về nhà thì cũng đến giờ tới lớp. Vẫn cái bụng còn đang kêu o o nó vơ cặp sách vừa đi vừa gật gù như những giáo sư non nhưng thực ra giấc ngủ dở dang đương được tiếp tục trên con đường đi học.

Buổi trưa nó về nhà với bát cơm đã nguội nhưng ăn vào miệng sao mà nóng thế. Nóng như những tiếng lầm bầm đay nghiến của bố mẹ nuôi nó vậy. Buổi chiếu nó ngồi bán giầy dép với mẹ nuôi. Đều đều mỗi tối giấc ngủ của nó đến chập chờn trong tiếng cãi cọ, mắng nhiếc…

Nó mơ thấy Chúa, mơ thấy cái hủi cười toét toe, mơ thấy thằng Bình Sứt, mơ thấy các sơ dòng vuốt tóc nó. Tiếng thánh ca ngân lên. Những con dế bò lồm ngồm ẩn hiện dưới những ngọn cỏ thơm thơm mùi nước mưa. Chính trong mơ nó tìm được hạnh phúc. Mỉm cười ngây ngô, nó mơ… ( Hết )